Tìm kiếm

Liên Kết Website


Quy định của Bộ luật hình sự năm 2015 về xóa án tích đối với người phạm tội
Thứ 5, 13 Tháng 9 2018 14:18

Xóa án tích là một chế định quan trọng, cơ bản trong chính sách pháp luật hình sự Việt Nam, mang tính nhân văn, nhân đạo và tôn trọng quyền con người. Chế định này thể hiện sự thừa nhận về mặt pháp lý người bị kết án không còn mang án tích nữa, từ đó không phải tiếp tục chịu hậu quả do việc bị kết án mang lại.

 

Nguyên tắc pháp lý cơ bản nhất của chế định xóa án tích là người được xóa án tích “coi như chưa bị kết án”, nghĩa là kể từ thời điểm được xóa án tích họ trở thành người hoàn toàn bình thường về mặt tư pháp và không ai có thể căn cứ vào sự kiện đã bị kết án trước đây để hạn chế quyền lợi của họ. Sau khi đã được xóa án tích, các giấy tờ liên quan đến căn cước, lý lịch của họ đều được ghi là “không có án tích” .

Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 (sau đây gọi tắt là BLHS năm 2015) đã sửa đổi và có nhiều quy định mới về vấn đề xóa án tích theo hướng mở rộng đối tượng được coi là không có án tích, rút ngắn thời hạn để được xóa án tích tạo điều kiện thuận lợi cho người bị kết án sớm tái hòa nhập cộng đồng, làm lại cuộc đời, ổn định để làm ăn sinh sống, cụ thể:

1. Có 05 trường hợp người bị kết án được coi là không có án tích (theo quy định tại khoản 2 Điều 69 và Điều 107 của BLHS năm 2015):

- Người bị kết án nhưng được miễn hình phạt;

- Người bị kết án do lỗi vô ý về tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng;

- Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi bị kết án về bất kể tội gì;

- Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi bị kết án về tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng hoặc tội phạm rất nghiêm trọng do vô ý;

- Người dưới 18 tuổi bị áp dụng biện pháp tư pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng.

2. BLHS năm 2015 quy định thời điểm để tính thời hạn xóa án tích sớm hơn  so với BLHS năm 1999, cụ thể (theo quy định tại Điều 70 và Điều 71 của BLHS năm 2015):

- Thời hạn xóa án tích được tính từ khi chấp hành xong hình phạt chính, thời gian thử thách án treo hoặc khi hết thời hiệu thi hành bản án. Đây là quy định mới và có lợi cho người bị kết án, vì theo quy định trước đây thì thời hạn xóa án tích được tính khi người phạm tội chấp hành xong bản án.

- Đối với các trường hợp đương nhiên được xóa án tích: Người bị kết án đương nhiên được xóa án tích, nếu từ khi chấp hành xong hình phạt chính hoặc hết thời gian thử thách án treo, người đó đã chấp hành xong hình phạt bổ sung, các quyết định khác của bản án và không thực hiện hành vi phạm tội mới trong thời hạn:

+ 01 năm trong trường hợp bị phạt cảnh cáo, phạt tiền, cải tạo không giam giữ, phạt tù nhưng được hưởng án treo;

+ 02 năm trong trường hợp bị phạt tù đến 05 năm;

+ 03 năm trong trường hợp bị phạt tù từ trên 05 năm đến 15 năm;

+ 05 năm trong trường hợp bị phạt tù trên 15 năm, tù chung thân, tử hình nhưng đã được giảm án.

- Đối với các trường hợp xóa án tích theo quyết định của Tòa án: Người bị kết án được Tòa án quyết định việc xóa án tích, nếu từ khi chấp hành xong hình phạt chính hoặc hết thời gian thử thách án treo, người đó đã chấp hành xong hình phạt bổ sung, các quyết định khác của bản án và không thực hiện hành vi phạm tội mới trong thời hạn sau đây:

+ 01 năm trong trường hợp bị phạt cảnh cáo, phạt cải tạo không giam giữ, phạt tù nhưng được hưởng án treo;

+ 03 năm trong trường hợp bị phạt tù đến 05 năm;

+ 05 năm trong trường hợp bị phạt tù từ trên 05 năm đến 15 năm;

+ 07 năm trong trường hợp bị phạt tù trên 15 năm, tù chung thân hoặc tử hình nhưng đã được giảm án.

- Trường hợp người bị kết án đang chấp hành hình phạt bổ sung là quản chế, cấm cư trú, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định, tước một số quyền công dân mà thời hạn phải chấp hành dài hơn thời hạn quy định để được xóa án tích, thì thời hạn để được xóa án tích sẽ hết vào thời điểm người đó chấp hành xong hình phạt bổ sung.

- Thời hạn để xóa án tích căn cứ vào hình phạt chính đã tuyên. Trường hợp sau khi hết thời gian thử thách mới thực hiện việc nộp án phí, bồi thường thiệt hại… thì thời hạn được tính đương nhiên xóa án tích kể từ ngày thực hiện xong án phí, bồi thường thiệt hại…

Bên cạnh đó, BLHS năm 2015 đã bỏ quy định Tòa án cấp giấy chứng nhận đương nhiên được xóa án tích cho người bị kết án, mà giao trách nhiệm cho Cơ quan quản lý cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp, cụ thể:

Tại khoản 4 Điều 70 BLHS năm 2015, quy định:

“Cơ quan quản lý cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp có trách nhiệm cập nhật thông tin về tình hình án tích của người bị kết án và khi có yêu cầu thì cấp phiếu lý lịch tư pháp xác nhận không có án tích, nếu có đủ điều kiện quy định tại khoản 2 hoặc khoản 3 điều này.”

N.B.P.T
Phản hồi
Thêm mới
Tên bạn:
Email:
 
Tiêu đề: