Công an Bình Thuận Biên niên sự kiện lịch sử - Chương I (10/1978 - 11/1978)
Thứ 6, 17 Tháng 7 2009 21:37

10/1978

Phá vỡ tổ chức phản động" Mặt trận thống nhất toàn lực quốc gia giải phóng Việt Nam"                                                                                                      
Lực lượng trinh sát Công an tỉnh, sau một thời gian theo dõi đã phát hiện tổ chức "Mặt trận thống nhất toàn lực lượng quốc gia giải phóng Việt Nam" âm mưu lật đổ chính quyền cách mạng, tập hợp những phần tử là nguỵ quân, nguỵ quyền không chịu cải tạo, bọn có quá trình chống phá cách mạng, có chương trình, hành động, có cờ hiệu, băng tay, kích động, lôi kéo quần chúng lạc hậu, tuyên truyền chiến tranh tâm lý gây rối an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội tại địa phương.

Sau khi bị ta bắt Hồ Viết Qui đã khai báo quá trình móc nối người vào tổ chức như sau : Tháng 10 năm 1978, Quy ở Sài Gòn ra Mương Mán gặp Nguyễn Thị Bê, lợi dụng tình cảm quen biết từ trước  Quy tự xưng là tham mưu trưởng của " Mặt trận thống nhất toàn lực quốc gia giải phóng Việt Nam " đến để tuyên truyền móc nối Thị Bê vào tổ chức phản động, Thị Bê đồng ý. Quy giao cho Thị Bê làm trưởng ban mật vụ chịu trách nhiệm xây dựng một cơ sở chi nhánh ở Mương Mán (Hàm Thuận ). Thị Bê nhận nhiệm vụ và bước đầu Bê đã tụ tập được một số người ở địa phương  rồi báo cáo cho Quy và phân công nhiệm vụ từng người trong tổ chức:

- Nguyễn Thành Long (em ruột thị Bê) làm phó trưởng ban mật vụ  

          - Phạm Đình Đức làm liên lạc của trung ương, kiêm tình báo

          - Trần Thành Trai làm trưởng phân chi nhánh cơ sở Mương Mán

          - NguyễnVăn Nhứt làm phó trưởng ban chi nhánh cơ sở Mương Mán.

          - Trần Văn Diễn : cộng tác viên

          - Nguyễn Văn Trợ: cộng tác viên

          - Phạm VănTòng : cộng tác viên

          - Trần Văn Chút (Tứ Hời) : cộng tác viên

          - Nguyễn Văn Đông : cộng tác viên

          - Huỳnh Văn Nhuận : thư ký phân chi

Hồ Viết Quy đưa cho tên Nhứt, Trai, Tòng, Đức, Nhuận và Thị Bê mỗi người 2 lá cờ có kích thước 0,6 x 0,9m ( một cờ mặt trận màu vàng có hình sao đỏ sáu cạnh nằm giữa bản đồ Việt Nam, ở giữa lá cờ là 1 cờ 3 que sọc đỏ màu vàng, kèm theo một băng nhỏ đeo tay hình thức như lá cờ mặt trận và một giấy chứng nhận kết nạp vào tổ chức, ký tên Chín E (tức Quy) đóng dấu tròn ở giữa có chữ BCH - K76). Quy bảo đồng bọn cất dấu cờ, chờ khi nào có quân đội của chúng tấn công đến thì lấy cờ treo lên, đeo băng tay vào để nhận nhau phối hợp hành động đứng lên lật đổ chính quyền cách mạng, theo sự chỉ huy từ trung ương đến cơ sở.

Ngoài ra, Quy còn đưa cho tên Nhứt một tờ thông báo số một, Nhứt đem tờ thông báo đến đọc cho Tòng và Đức nghe với nội dung:" kêu gọi quân nhân ở chế độ cũ và các gia đình nhân dân giàu có giúp đỡ tiền của cho chiến hữu để đứng dậy lật đổ cách mạng". Sau khi ra móc nối tổ chức ở Mương Mán, Quy trở vào Sài Gòn định sáp nhập chi nhánh Mương Mán với tổ chức khác ở trong đó. Ta đã phát hiện bắt Hồ Viết Quy, đồng bọn ở ngoài này sợ bại lộ đã bí mật tin nhau đem cờ và giấy chứng nhận đốt để phi tang. Thị Bê và tên Long (em ruột Bê) bỏ trốn, ta có lệnh truy nã.           

Riêng tên Nhứt và Trai cùng một thời gian trên cả 2 đã tham gia vào tổ chức phản động " Hội đồng chống cộng khu nam Bình Thuận" do tên Lương cầm đầu, Nhứt được giao nhiệm vụ tiếp tế cho đồng bọn. Tên Trai đã nhận vào tổ chức nhưng chưa giao nhiệm vụ gì thì bị phát hiện bắt giữ.

           Đối với Nguyễn Văn Nhứt và Trần Thành Trai đều là nguỵ quân, sau giải phóng ta cho đi học tập cải tạo tha về, nhưng bằng mọi cách cùng lúc tham gia 2 tổ chức phản cách mạng. Ta bắt tập trung cải tạo 3 năm đối với Nguyễn Văn Nhứt, Nguyễn Thành Trai, Phạm Văn Tòng, Phạm Đình Đức.

 
13/11/1978

BẮT CHẾ TÔN SINH CẦM ĐẦU GIẾT NGƯỜI VÌ MÊ TÍN

 

          Sáng 1/11/1978 ông Mang Tú Hoa lên rẫy gặt lúa phát hiện chòi rẫy nhà chị mình cháy hết chỉ còn lại xác Mang Thi vợ và con gái. Mang Tú Hoa chạy về báo cho chính quyền xã.  Chủ tịch xã Nguyễn Văn Mạnh (Mang Banh) cho phép họ hàng Mang Thi chôn cất ngay sau đó đồng thời nhắn với Hoàng Văn Là là chờ y về sẽ bàn tính việc viết báo cáo. Sáng ngày 2/11/1978 Mạnh chưa về Là đã viết báo cáo gửi về huyện.

Nhận được tin, Công an huyện Bắc Bình thấy có nghi vấn nên cử cán bộ xuống tận hiện trường để thu thập tình hình, đồng thời báo cáo về Ty Công an .

Ngày 5/11/1978 đại diện Ty Công an, Viện kiểm sát và Hội đồng giám định pháp y tỉnh Thuận Hải thành lập Hội đồng xuống hiện trường để khám nghiệm, bước đầu thu được 13 vỏ đạn AR15 đã bị bấm hạt nổ cách chổ ngủ gia đình Mang Thi 1m40 và nghi 4 khẩu AR15 của du kích xã có khả năng gây án. Đồng thời giải thích chính sách để họ hàng cho khai quật mộ Mang Thi. Sau khi khai quật khám nghiệm, toàn bộ vụ án đã được phát hiện. Ngày 13/11/1978 ta tổ chức bắt Chế Tôn Sinh. Trước cơ quan điều tra Chế Tôn Sinh đã thú tội và khai nhận toàn bộ diễn biến vụ án.

Tối ngày 28/10/1978 tại nhà Chế Tôn Sinh, cùng có Mai Văn Đăng và Mang Sâu bàn nhau giết gia đình ông Mang Thi cùng vợ con vì cho rằng gia đình ông Thi có bùa ngãi ếm chết người.

Để thực hiện ý định trên, 18 giờ ngày 31/10/1978 sau khi thăm bệnh tình mẹ Chế Tôn Sinh xong cả 3 ra sau nhà, Sinh đưa ra kế hoạch bàn tính cụ thể việc đi giết gia đình ông Thi. Mang Sâu đồng ý và về nhà lấy súng Carbin ( Sâu là du kích xã) còn Sinh đến nhà Mang Đưng - xã đội phó mượn thêm 1 cây súng nữa, trên đường đi gặp Đưng và Mang Canh, Sinh nói dối mượn súng để đi săn heo rừng, Đưng và Canh đồng ý, đêm ấy cả hai tới thăm mẹ  Sinh đồng thời giao 2 cây súng AR15 và M16 cho Sinh mượn rồi về.

Đến 22 giờ ngày 31/10/1978, cả ba thực hiện kế hoạch giết Mang Thi. Đến nơi Đăng vào nhà chòi rẩy Mang Thi, vì chó sủa nên trở ra bảo sinh cởi áo cho Đăng mặc, Sinh đưa áo cho Đăng. Khi cách chòi rẩy vợ chồng ông Mang Thi 2 m và hỏi bằng tiếng Kinh: Có ai ở nhà không? ông Mang Thi trả lời: Chú hỏi ai, cùng lúc đó Đăng đã bóp cò bắn vào Mang Thi 4 phát vào Mang Thi. Hoàng Thị Xi (con Mang Thi) la lên: Trời ơi ai giết cha tôi. Đăng tiếp tục nổ súng cho đến khi không còn tiếng la nữa mới chạy ra chỗ Sinh và Sâu. Sau đó Sinh lấy bật lửa vào đốt chòi Mang Thi, lửa cháy cả 3 cùng ra về. Đăng giao súng lại cho Sinh rồi về còn Sâu ngủ lại nhà Sinh đến sáng.

          Vụ án đã được xét xử công khai, các đối tượng gây án đã phải chịu nhận mức án : Chế Tôn Sinh: Chung thân, Mai Văn Đăng: Chung thân, Mang Banh (Mạnh) 5 năm tù giam .

 
10/1978

PHÁ VỠ TỔ CHỨC PHẢN ĐỘNG "MẶT TRẬN DÂN QUÂN YÊU NƯỚC"  Ở MƯƠNG MÁN - HÀM THUẬN NAM

 

           Được sự phối hợp chặt chẽ của lực lượng trinh sát Công an thành  phố Hồ Chí Minh, Công an Tây Ninh và Công an đường sắt, Công an tỉnh Thuận Hải đã kịp thời phát hiện và phá tan tổ chức phản động tại địa bàn Mương Mán - Hàm Thuận Nam.

           Tháng 10/1975 Nguyễn Văn Như và số nguỵ quân, nguỵ quyền có tư tưởng hận thù cách mạng đã nhen nhóm, cấu kết với nhau thành lập tổ chức phản cách mạng "Dân quân phục quốc" tại Hàm Thuận và rải truyền đơn phản động tại Phan Thiết. Năm 1976 Như có ý định tổ chức đánh phá trại giam Phan  Thiết để giải cứu cho số sỹ quan nguỵ đang bị giam giữ nhưng  bị thất bại Như chạy về Tây Ninh cư trú. Sau đó y tìm gặp và giao cho cơ sở ở Bình Thuận cho Nguyễn Hữu Tín, tức Hoài Hương, pháp danh Thích Tâm Căn để tiếp tục phát triển lực lượng hoạt động chống phá cách mạng.

Sau khi nhận những cơ sở do Nguyễn Văn Như giao lại năm 1978 Nguyễn Hữu Tín đã móc nối với một số cầm đầu tổ chức "Dân quân phục quốc" do Nguyễn Văn Như thành lập năm 1977 và tổ chức "Mặt trận dân quân chống cộng" do Huỳnh Văn Mười thành lập năm 1978 tại Mương Mán - Hàm Thuận Nam. Chúng sáp nhập hai tổ chức này thành tổ chức "Mặt trận dân quân yêu nước" dưới sự chỉ đạo của Nguyễn Văn Như và Nguyễn Hữu Tín làm Chủ tịch, sau đó họp bàn phân công nhiệm vụ móc nối người vào tổ chức và cử giữ các chức vụ:

- Nguyễn Văn Lượng làm phó Chủ tịch phụ trách quân sự đặc trách Thuận Hải (cũ).

          - Huỳnh Văn Mười giúp Nguyễn Hữu Tín nghiên cứu viết Cương lĩnh của tổ chức.

          - Nguyễn Thanh giữ chức xã trưởng 2 xã Hàm Hiệp, Hàm Mỹ.

          - Nguyễn Văn Cúc giữ chức phó Chủ tịch tổ chức "Mặt trận dân quân yêu nước".

          - Trương Đăng út phụ trách chi khu Hàm Thuận (phụ tá cho Lượng).

          - Nguyễn Tiếp là công nhân đường sắt được phân công nắm tình hình bố phòng của tự vệ ga Mương Mán.

Tất cả những tên trên đều thường trú tại Mương Mán - Hàm Thuận Nam. Âm mưu lâu dài của chúng là : tập hợp lực lượng phát triển tổ chức vũ trang, liên kết với các tổ chức phản động khác thành lực lượng rộng lớn, lấy vùng núi Cô Nhì - Mương Mán lập thành mật khu để hoạt động lâu dài. Khi có điều kiện thì đánh phá, lật đổ, cướp chính quyền cách mạng từ bộ phận cấp huyện như: Hàm Thuận, Hàm Tân gây ảnh hưởng chính trị tạo điều kiện liên lạc với bọn phản động bên ngoài hoạt động chống phá ta.

Chúng nắm tình hình ga Mương Mán về số lượng đầu máy xe lửa. Tình hình vận chuyển hàng hoá, vũ khí quân sự để đánh cướp đưa vào mật khu. Với ý đồ cắt 200km đường ray xe lửa từ thành phố Hồ Chí Minh trở ra và khống chế vùng chiến lược rộng lớn từ ven biển (Thuận Hải cũ) qua Sông Bé lên Tây Ninh và cắt ngang địa bàn Nam Bộ tạo thế cô lập đối với thành phố Hồ Chí Minh và cả Nam Bộ. Chúng đã chuẩn bị một số vũ khí, phương tiện, cương lĩnh, cờ và kế hoạch "bước từng bước" và quan hệ liên kết một số tổ chức phản động khác ở Sông Bé, Tây Ninh, thành phố Hồ Chí Minh... Như vậy tổ chức "Mặt trận dân quân yêu nước" đã có một số ảnh hưởng và gây thế nhất định trong phạm vi địa phương cũng như các địa phương khác.

Được sự phối hợp chặt chẽ của lực lượng trinh sát Công an Tp. Hồ Chí Minh, Công an Tây Ninh và Công an đường sắt, Công an tỉnh Thuận Hải đã kịp thời phát hiện và phá tan tổ chức phản động tại địa bàn Mương Mán - Hàm Thuận Nam có liên quan đến nhiều tỉnh, thành. ở Bình Thuận có 15 đối tượng tham gia, ta đã bắt hầu hết số cầm đầu và số tham gia gồm 117 đối tượng. Hoàn thành hồ sơ đưa ra xử lý trước pháp luật. Mức án từ  4 năm tù giam đến tù chung thân .

 

 11/1978

TRIỂN KHAI KẾ HOẠCH VÀ KẾT QUẢ

ĐẤU TRANH CHỐNG FULRO NĂM 1978


           Quán triệt Chỉ thị 04 của Ban Bí thư, Nghị quyết 32 của ngành, trong năm 1977, Thuận Hải đã cơ bản thanh toán lực lượng Fulro gồm hàng ngàn tên, kể cả lực lượng vũ trang ngoài rừng và lực lượng tại chỗ làm thất bại âm mưu chống phá cách mạng của bọn phản động Fulro.

          Đối với Fulro Chăm trong năm 1978 diễn biến khá phức tạp, chúng lợi dụng chiến tranh ở biên giới Tây Nam để tuyên truyền, khơi dậy nỗi đau mất nước từ các thế kỷ trước để kích động giành lại "Tổ quốc Chăm pa" với hình thức phổ biến các bài thơ, bài hát chứa đựng nội dung khơi lại lịch sử dân tộc Chăm, nổi lên ở Phan Thanh, Phan Hiệp (thuộc huyện Bắc Bình).

Số lẩn trốn ngoài rừng vẫn lén lút cải trang đi vào các thôn, ấp Chăm ở Phan Lý Chàm (Bắc Bình), Ma lâm Chàm (Hàm Thuận) móc nối cơ sở. Ngoài ra chúng còn móc nối với Fulro Thượng ở La Ngâu, La Dạ (Đức Linh), tại đây chúng đã bắt cóc một số người là du kích cán bộ cướp súng rồi khống chế thả về, chúng đốt chòi, giết người, gom dân tuyên truyền hoạt động Fulro buộc dân phải nộp lương thực, thực phẩm...

Trước tình hình đó, Ty Công an đã có kế hoạch chủ động nắm chắc tình hình, vận dụng linh hoạt các biện pháp nghiệp vụ, tổ chức 47 cuộc hành quân truy quét diệt 11 tên, bắn bị thương 4 tên, bắt sống 3 tên, kêu gọi 12 tên về hàng, làm tan rã hoàn toàn 3 toán.

Ngoài việc trấn áp, ta đã tổ chức nhiều đợt phát động quần chúng ở 12 xã vùng cao nhất là sau các đợt truy quét, ta đã đưa số bị bắt và số về hàng ra thú tội và tố cáo tội ác của bọn phản động Fulro gây khí thế trong quần chúng. Hàng chục người có chồng con theo Fulro đã xin chính quyền đi tìm người thân trở về, thậm chí họ lên án tố giác, căm thù Fulro, đề nghị ta giáo dục, răn đe những tên ngấm ngầm hoạt động chống đối cách mạng.

Nhân dân đã cùng cán bộ chính quyền địa phương kiên trì vận dụng mọi biện pháp kéo được bọn đầu sỏ về hàng (nhân dân xã Cát Hải kêu gọi tên Mang Hàng về), đấu tranh tiêu diệt nhiều trên Fulro từ Lâm Đồng xuống (cán bộ nhân dân xã Sơn Điền - Hàm Thuận, La Dạ - Đức Linh ...) đã góp phần ổn định và giữ vững an ninh chính trị trong vùng dân tộc, hạn chế tác động ảnh hưởng của Fulro trên các địa bàn trong tỉnh.