Nội dung chính của dự thảo Luật Phòng, chống mua bán người
Thứ 4, 03 Tháng 11 2010 17:55
Luật PCMBN được xác định là một văn bản quy phạm pháp luật chuyên biệt có hiệu lực pháp lý cao, quy định một cách tập trung, thống nhất những vấn đề có tính nguyên tắc, làm định hướng cho công tác phòng, chống mua bán người, đặc biệt là phụ nữ, trẻ em. Trên tinh thần đó, dự thảo Luật có phạm vi điều chỉnh tương đối toàn diện, trong đó tập trung vào 06 nhóm vấn đề chủ yếu trong phòng, chống mua bán người, đó là: 1) các nguyên tắc, chính sách về phòng, chống mua bán người; quyền và nghĩa vụ của nạn nhân; quản lý nhà nước về phòng, chống mua bán người; 2) các biện pháp phòng, chống mua bán người; 3) xác minh, tiếp nhận, giải cứu, bảo vệ nạn nhân; 4) các chính sách hỗ trợ nạn nhân; 5) hợp tác quốc tế trong phòng, chống mua bán người; 6)trách nhiệm của cá nhân, gia đình, cơ quan, tổ chức trong phòng, chống mua bán người.
Trên cơ sở phạm vi được xác định như trên, dự án Luật phòng, chống mua bán người được thiết kế gồm có 7 chương với 53 điều, cụ thể như sau:
Chương I. Những quy định chung
Chương này gồm 07 điều (từ Điều 1 đến Điều 7) quy định về phạm vi điều chỉnh của Luật, các khái niệm liên quan đến mua bán người, các nguyên tắc và chính sách của Nhà nước về phòng, chống mua bán người; trách nhiệm quản lý nhà nước về phòng, chống mua bán người cũng như những hành vi bị cấm.
Điều 2 của dự thảo Luật xác định "mua bán người" nói trong Luậtphòng, chống mua bán người bao gồm 02 nhóm hành vi sau:
- Chuyển giao, tiếp nhận người hoặc tuyển mộ, vận chuyển, chứa chấp người để chuyển giao bằng thủ đoạn dùng vũ lực, đe doạ dùng vũ lực, bắt cóc, lừa gạt, lạm dụng quyền lực, lợi dụng tình trạng quẫn bách của người khác hoặc bằng các thủ đoạn khác để đổi lấy tiền hoặc lợi ích vật chất khác hoặc nhằm mục đích bóc lột tình dục, bóc lột sức lao động, lấy các bộ phận cơ thể hay vì mục đích vô nhân đạo khác.
- Chuyển giao, tiếp nhận hoặc tuyển mộ, vận chuyển, chứa chấp người chưa thành niên, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất để chuyển giao nhằm đổi lấy tiền hoặc lợi ích vật chất khác hoặc nhằm mục đích bóc lột tình dục, bóc lột sức lao động, lấy các bộ phận cơ thể hay vì mục đích vô nhân đạo khác.
Với việc xác định hành vi mua bán người như trên, Luật phòng, chống mua bán người điều chỉnh được tất cả các hành vi phạm tội mua bán người, mua bán trẻ em xảy ra trên thực tế mà có thể bị xử lý theo quy định của Bộ luật hình sự hiện hành cũng như các hành vi mua bán người theo quy định của Công ước TOC và Nghị định thư kèm theo.
Chương II. Các biện pháp phòng, chống mua bán người
Chương này gồm 10 điều (từ Điều 8 đến Điều 17) quy định các biện pháp phòng, chống mua bán người. Có 05 điều quy định các biện pháp phòng ngừa mua bán người (thông tin, giáo dục, truyền thông; tư vấn; quản lý về an ninh, trật tự; quản lý chặt chẽ các hoạt động kinh doanh dịch vụ nhằm phòng ngừa việc lợi dụng các hoạt động này để mua bán người; lồng ghép nội dung phòng chống mua bán người vào các chương trình phát triển kinh tế - xã hội, các chương trình phòng chống tội phạm, phòng, chống tệ nạn xã hội) và05 điều quy định về các biện pháp phát hiện, xử lý tội phạm về mua bán người.
Chương III. Xác minh nạn nhân. Tiếp nhận và bảo vệ nạn nhân, người đang chờ xác minh là nạn nhân
Chương này gồm 08 điều (từ Điều 18 đến Điều 25) quy định về quy trình tiếp nhận, hỗ trợ và xác minh nạn nhân, xác định cơ quan đầu mối trong việc tiếp nhận và hỗ trợ ban đầu cho nạn nhân, người đang chờ xác minh là nạn nhân, đồng thời, quy định các biện pháp bảo vệ nạn nhân, người đang chờ xác minh là nạn nhân.
Chương IV. Hỗ trợ nạn nhân, người đang chờ xác minh là nạn nhân
Chương này gồm 07 điều (từ Điều 26 đến Điều 32) quy định về các chế độ hỗ trợ mà nạn nhân, người đang chờ xác minh là nạn nhân được hưởng, đồng thời, quy định rõ từng loại đối tượng được hưởng những chế độ hỗ trợ nhất định.
Chương V. Hợp tác quốc tế trong phòng, chống mua bán người
Chương này gồm 04 điều (từ Điều 33 đến Điều 36) quy định một cách khái quát về các nguyên tắc hợp tác quốc tế, việc thực hiện hợp tác quốc tế trong phòng, chống mua bán người, về hợp tác quốc tế trong việc giải cứu và hồi hương nạn nhân cũng như việc tương trợ tư pháp và dẫn độ trong lĩnh vực phòng, chống mua bán người.
Chương VI. Trách nhiệm của cá nhân, gia đình, cơ quan, tổ chức trong đấu tranh phòng, chống mua bán người
Chương này gồm 15 điều (từ Điều 37 đến Điều 51) quy định về trách nhiệm cụ thể của cá nhân, gia đình, cơ quan, tổ chức trong đấu tranh phòng, chống mua bán người. Dự thảo Luật xác định 04 nhóm trách nhiệm:
- Trách nhiệm của cá nhân, gia đình (các điều 37, 38);
- Trách nhiệm của các cơ quan nhà nước (các điều 43 - 49);
- Trách nhiệm của các đoàn thể xã hội (các điều 50, 51);
- Trách nhiệm của nhà trường, cơ quan thông tin đại chúng cũng như trách nhiệm của các cơ sở kinh doanh dịch vụ, cơ sở tiếp nhận, hỗ trợ nạn nhân và cơ sở bảo trợ xã hội(các điều 39 -42).
Chương VII. Điều khoản thi hành
Chương này gồm có 02 điều (Điều 52 và Điều 53) quy định về hiệu lực của Luật phòng, chống mua bán người và giao trách nhiệm cho Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật.
 
* VẤN ĐỀ PHÒNG NGỪA MUA BÁN NGƯỜI TRONG DỰ THẢO LUẬT PHÒNG, CHỐNG MUA BÁN NGƯỜI.
Xuất phát từ quan điểm "lấy phòng ngừa là chính, chú trọng công tác thông tin, giáo dục, truyền thông, tư vấn về phòng, chống mua bán người kết hợp với công tác quản lý về an ninh, trật tự và kiểm soát các hoạt động dễ bị lợi dụng để mua bán người" (Khoản 1, Điều 3),dự thảo Luật PCMBN đã dành 05 điều (từ Điều 8 đến Điều 12) quy định 02 nhóm biện pháp phòng ngừa mua bán người, cụ thể như sau:
1. Nhóm biện pháp nhằm nâng cao nhận thức về phòng, chống mua bán người, bao gồm:
1.1. Thông tin, giáo dục, truyền thông về phòng, chống mua bán người (Điều 8):
Mục đích của việc thông tin, giáo dục, truyền thông về phòng, chống mua bán người là để nâng cao nhận thức về trách nhiệm cá nhân, gia đình, cơ quan, tổ chức và cộng đồng trong đấu tranh phòng, chống mua bán người, về mối hiểm hoạ của mua bán người, làm cho mọi người đề cao cảnh giác, tích cực tham gia phòng ngừa, ngăn chặn và đấu tranh chống mua bán người, chống kỳ thị, phân biệt đối xử với nạn nhân.
Nội dung thông tin, giáo dục, truyền thông về phòng, chống mua bán người bao gồm: chính sách, pháp luật về phòng, chống mua bán người; thủ đoạn và tác hại của hành vi mua bán người; kỹ năng ứng xử trong trường hợp có nghi ngờ về việc mua bán người; biện pháp, mô hình, kinh nghiệm trong phòng, chống mua bán người; trách nhiệm của cá nhân, gia đình, cơ quan, tổ chức, đơn vị vũ trang nhân dân và cộng đồng trong phòng, chống mua bán người; chống kỳ thị, phân biệt đối xử với nạn nhân,…
Việc thông tin, giáo dục, truyền thông về phòng, chống mua bán người được thực hiện bằng các phương thức như:gặp gỡ, nói chuyện trực tiếp; cung cấp tài liệu tuyên truyền; thông qua các phương tiện thông tin đại chúng; lồng ghép trong việc giảng dạy, học tập tại các cơ sở giáo dục thuộc hệ thống giáo dục quốc dân; thông qua hoạt động văn học, nghệ thuật, sinh hoạt cộng đồng và các loại hình văn hoá quần chúng khác,…
Tại Điều này cũng xác định công tác thông tin, giáo dục, truyền thông về phòng, chống mua bán người cần được chú trọng đối với đối tượng là phụ nữ, thanh thiếu niên, học sinh, sinh viên và những người sinh sống tại khu vực biên giới, vùng sâu, vùng xa, vùng có điều kiện kinh tế khó khăn, đồng thời, dự thảo Luật cũng quy định việc xây dựng mạng lưới tuyên truyền viên về phòng, chống mua bán người ở cơ sở; huy động sự tham gia tích cực của các đoàn thể xã hội.
1.2. Tư vấn về phòng, chống mua bán người (Điều 9):
Tư vấn về phòng, chống mua bán ngườibao gồm các nội dung sau đây:
- Cung cấp kiến thức pháp luật về phòng, chống mua bán người; thông tin về nguy cơ và mối hiểm hoạ mua bán người;
- Cung cấp thông tin về thủ đoạn mua bán người và hướng dẫn kỹ năng ứng xử trong trường hợp có nghi ngờ về việc mua bán người;
- Cung cấp những thông tin về quyền, nghĩa vụ của nạn nhân và hướng dẫn cách thức thực hiện các quyền, nghĩa vụ đó.
Việc tư vấn phòng, chống mua bán ngườitập trung vào một số đối tượng có nguy cơ cao trở thành nạn nhân của tội phạm này như:
- Người có nhu cầu tìm kiếm việc làm hoặc đi du lịch trong nước hoặc ở nước ngoài;
- Người có nhu cầu kết hôn với người nước ngoài;
- Người có nhu cầu cho, nhận con nuôi;
- Người chưa thành niên và người đại diện hợp pháp của họ;
- Nạn nhân và thân nhân của họ.
2. Nhóm biện pháp nhằm hạn chế, tiến tới loại trừ nguyên nhân và điều kiện dẫn đến nguy cơ mua bán người, bao gồm:
2.1. Quản lý về an ninh, trật tự (Điều 10), gồm có:
- Theo dõi nhân khẩu, hộ khẩu ở địa bàn dân cư thông qua công tác hộ tịch, hộ khẩu; tăng cường kiểm tra nhân khẩu ở địa bàn.
- Giám sát chặt chẽ sự biến động dân cư trên địa bàn thông qua chế độ đăng ký tạm trú, tạm vắng.
- Giám sát chặt chẽ các đối tượng có tiền án, tiền sự về mua bán người và các đối tượng có nghi vấn khác trên địa bàn.
- Quản lý và sử dụng có hiệu quả các thông tin về tàng thư, căn cước, lý lịch tư pháp phục vụ công tác phòng, chống mua bán người.
- Tăng cường tuần tra, kiểm soát tại các cửa khẩu, khu vực biên giới và trên biển nhằm kịp thời phát hiện, ngăn chặn hành vi mua bán người.
- Trang bị các phương tiện kỹ thuật hiện đại tại các cửa khẩu quốc tế phục vụ cho việc nhận dạng người và phát hiện nhanh chóng, chính xác các loại giấy tờ, tài liệu giả mạo; nâng cấp các
trang thiết bị kiểm soát, kiểm tra tại các chốt kiểm soát, cửa khẩu.
- Quản lý chặt chẽ công tác cấp giấy tờ tùy thân, giấy tờ có giá trị xuất cảnh, nhập cảnh; ứng dụng công nghệ tiên tiến trong sản xuất, cấp phát, quản lý và kiểm soát các loại giấy tờ tùy thân và giấy tờ có giá trị xuất cảnh, nhập cảnh.
- Phối hợp chặt chẽ với lực lượng biên phòng và các lực lượng chức năng khác của các nước láng giềng trong việc tuần tra, kiểm soát biên giới nhằm phát hiện, ngăn chặn mua bán người, giải cứu nạn nhân.
2.2. Quản lý chặt chẽ các hoạt động kinh doanh, dịch vụ nhằm phòng ngừa việc lợi dụng các hoạt động này để mua bán người, gồm có:
- Quản lý chặt chẽ các hoạt động cho, nhận con nuôi, hỗ trợ kết hôn có yếu tố nước ngoài, giới thiệu việc làm, đưa người đi lao động, học tập hoặc du lịch ở nước ngoài, kinh doanh khách sạn, nhà nghỉ và các hoạt động kinh doanh dịch vụ khác dễ bị lợi dụng để mua bán người theo quy định của pháp luật.
- Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra đối với các hoạt động quy định tại khoản 1 Điều này nhằm phát hiện, ngăn chặn việc lợi dụng các hoạt động này để mua bán người.
2.3. Lồng ghép nội dung phòng, chống mua bán người vào các chương trình phát triển kinh tế - xã hội, các chương trình phòng, chống tội phạm và tệ nạn xã hội:
- Phòng, chống mua bán người là một trong những mục tiêu ưu tiên của các chương trình phát triển kinh tế - xã hội.
- Chính phủ chỉ đạo các bộ, ngành, chính quyền địa phương lồng ghép nội dung phòng, chống mua bán người vào trong các chương trình xóa đói, giảm nghèo, hỗ trợ tín dụng cho các hộ gia đình khó khăn để phát triển kinh tế, đào tạo nghề, giải quyết việc làm, chương trình phòng, chống tội phạm, phòng, chống mại dâm và các chương trình phát triển kinh tế - xã hội khác./.
                                                                      Vụ Pháp luật Hình sự - Hành chính, Bộ Tư pháp